NGUỒN GỐC ĐẶT TÊN CÁC NGUYÊN TỐ (XẾP THEO VẦN ABC)

16 04 2010

1. Actini 89, 1899, từ tiếng Hi Lạp “aktis”nghĩa là “tia” do nguyên tố này phát ra tia phóng xạ.

2. Argon (Ar) 18, 1894, khí, từ tiếng Hi Lạp “argon” nghĩa là “lười biếng” hoặc ” không hoạt động”.

3. Americi (Am) 95, 1944, tên gọi để kỉ niệm America (Mỹ) là nơi đã khám phá ra ( bằng con đường nhân tạo ) lần đầu tiên.

4. Antimo (Sb) 51, thời trung cổ, ký hiệu bắt nguồn từ tiếng La Tinh cổ “Stibium” tức chất rắn.

5. Asen (As) 33, thời trung cổ, từ tiếng Hi Lạp “asensinikon” nghĩa là “màu sáng”. Người Hi Lạp thời xưa đã dùng các hợp chất cuae Asen làm chất màu (asentrisunfat).

6. Astat (At) 85, 1940, tưg tiếng Hi Lạp “astatos” nghĩa là không bền vững.

7. Azot (N) 7, 1772, khí, từ tiếng Hi Lạp “Nitrogene” nghĩa là chất sinh ra nitrat, chẳng hạn như natri nitrat.

8. Bạc (Ag) 47, thời tiền sử, kí hiệu bắt nguồn từ tên gọi cổ xưa của bạc là “argentium”.

9. Bari (Ba) 56, 1808, từ tên gọi của quặng barit, hoặc là xỉ quặng có chứa bari, theo tiếng Hi Lạp “Barys” nghĩa là “nặng”.

10. Beckoli (Bk) 97, 1949, tên gọi thành phố Beckoli bang California ơ Mỹ, kỉ niệm nơi đã tổng hợp ra nó lần đầu tiên.

11. Berili (Be) 5, 1797, lần đầu tiên được khám phá ra từ khoáng vật Berili.

12. Bo (B) 5, 1808, từ tên gọi hợp chất của nó Boras.

13. Brom (Br) 35, 1825, lỏng, từ tiếng Hi Lạp “Bromos” nghĩa là mùi hôi.

14. Cacbon (C) 6, thời tiền sử, kí hiệu bắt đầu từ tiếng La Tinh “carbon” nghĩa là than.

15. Cadimi (Cd) 48, 1817, tên gọi của một loại quặng bằng tiếng La Tinh cổ, nó được khám phá ra lần đầu tiên từ quặng này.

16. Califoni (Cf) 98, 1950, tên gọi của bang Califonia (Mỹ) là nơi có trường đại học tổng hợp đã chế tạo ra nguyên tố này lần đầu tiên.

17. Caxi (Ca) 20, 1808, từ tiếng La Tinh “Calcis” nghĩa là vôi hoặc là canxi oxit.18. Chì (Pb) 82, thời tiền sử, kí hiệu bắt nguồn từ tên gọi của tiếng La Tinh của chì là “plumbum”.

19. Clo (Cl) 17, 1774, khí, từ tiếng Hi Lạp “chloros” nghĩa là xanh lá cây sáng. Clo ở thể khí có màu vàng lục.

20. Coban (Co) 27, 1737, từ tiếng Đức “kobold” tên gọi một vị thần cản trở việc luyện sắt.

21. Crom (Cr) 24, 1797, từ tiếng Hi Lạp “chroma” nghĩa là hoa. Nó được dùng làm chất màu.

22. Curium (Cm) 96, 1944, đặt tên để kỉ niệm hai vợ chồng  nhà bác học Mari và Pie Curi.

23. Dypoxxi (Dy) 66, 1886, từ tiếng Hi Lạp “dý-prositos” nghĩa là “ít ỏi, thiếu”.

24. Đồng (Cu) 29, thời tiền sử, từ tiếng La Tinh “Cuprum” hoặc Cuprus – tên gọi của đảo Sip, nơi cung cấp đồng cho nhân dân cổ xưa.

25. Esteni (Es) 99, 1952, tên gọi kỉ niệm Anbe Anhstanh, nhà vật lí học vĩ đại.

26. Eribi (Er) 69, 1843, tên gọi để kỉ niệm một nơi đã phát hiện ra nhiều quặng đất hiếm.

27. Europi (Eu) 63, 1901, xuất xứ từ châu âu.

28. Fecmi (Fm) 100, 1953, tên gọi để kỉ niệm Enri Ko Fecmi, nhà vật lí học vĩ đại.

29. Flo (F) 9, 1889, khí, từ tiếng La Tinh “fluo” nghĩa là chảy xỉ lò quặng.

30. Franxi (Fr) 87, 1939, tên gọi để kỉ niệm nước Pháp.

31. Gadolini (Gd) 64, 1986, tên gọi của nhà hóa học người Phần Lanlaf logana Gagolina đã nghiên cứu các đất hiếm.

32. Gali (Ga) 31, 1875, tên gọi để kỉ niệm nước Pháp.

33. Gecmani (Ge) 32, 1886, tên gọi để kỉ niệm nước Đức.

34. Hafii (Hf) 72, 1923, từchwx “Hafnia” – tên gọi thủ đô Đan Mạch (Co – Pen-  Ha -Gen) theo tiếng La Tinh.

35. Heli (He) 2, 1868, từ tiếng Hi Lạp “helios” nghĩa là mặt trời bởi vì nó được phát hiện lần đầu tiên trong quang phổ mặt trời.

36. Hyđro (H) 1, 1766, từ tiếng Pháp “hydrogene” nghĩa là sinh ra nước.Nước được tạo ra từ khí hidro khi bị đốt cháy.

37. Honmi (Ho) 67, 1897, từ chữ “Holmia” têgoij La Tinh của thủ đô Thụy Điện là Stockhom.

38. Indi (In) 4 9, 1863, từ tiếng La Tinh “Indicium” vì nó phát hiện bằng quang phổ và có màu chàm.

39. Iot (I) 53, 1811, từ tiếng La Tinh”Iodes” nghĩa là tím.

40. Iridi (Ir) 77, 1804, từ tiếng Hi Lạp “iridis” nghĩa là cầu vòng bởi vì một số dung sịch của nó có sắc cầu vồng.

41. Kali (K) 19, 1807, từ tiếng Ả Rạp “alcali” nghĩa là tro của cây cỏ.

42. Kẽm (Zn) 30, thế kỉ XVII, tên gọi từ tiếng Đức ‘Zink”.

43. Kripton (Kr) 36, 1898, khí từ tiếng Hi Lạp “Krystos” nghĩa là ẩn náu.

44. Lantan (La) 57, 1839, từ tiếng Hi lạp “lan-thanein” nghĩa là năm ẩn náu.

45. Liti (Li) 3, 1817, từ tiếng Hi Lạp, “lithos”nghĩa là đá.

46. Lutexi (Lu) 71, 1907, từ chữ “luteria”, tên gọi cổ xưa của Pari.

47. Lưu huỳnh (S) 15, thời tiền sử, ký hiệu xuất xứ từ tiếng La Tinh  “sulfur”.

48. Magiee (Mg) 12, 1808, twf tên “Magnesia lithos” nghĩa là đá manhe. Đó là một khoáng vật màu trắng, lần đầu tiên tìm thấy ở vùng Macnhedia thời cổ Hi Lạp.

49. Mângn (Mn) 25, 1774, từ tiếng Italia “Mângnese”, một bbieesn dạng của tiếng LaTinh “Magnnesius”tức là Magiê.

50. Mendelevi (Md), 101, 1955, tên gọi để kỉ niệm ĐiMitri Ivannovitch Mendeleev – nhà hóa học vĩ  đại người Nga.

51. Molipden  (Mo) 42, 1781, từ tiếng Hi Lạp “molybdos” nghĩa là chì. molipden được pháp hiện lần đầu tiên từ quặng chì, trước đó người ta cho đó là quặng chì.

52. Natri (Na) 11, 1807, theo tiếng Ả Rạp, “natrium”  nghĩa là muối tự nhiên.

53. Neodim (Nd), 60, 1885, từ tiếng Hi Lạp “neos” nghĩa là mới và “điymos” nghĩa là “sinh đôi”, neodim và prazeodim đẫ phân lập được  từ một chất có tên gọi “diodim” và được xem là nguyên tố giống Lantan.

54. Neon (Ne) 10, 1898, từ tiếng Hi Lạp “néo” nghĩa là mới.

55. Neptuni (Np), 93, 1940, tên gọi để kỉ niệm sao Hải Vương (Neptum).

56. Nhôm (Al) 13, 1825, từ tiếng La Tinh “alumen”, “aluminis” nghĩalaf  sinh ra phèn.

57. NNiken (Ni) 28, 1751, từ tiếng Đức “Kupfernicket” nghĩa là loại “đồng ma quái”.

58. Niobi  (Nb) 41, 1801, tên gọi để kỉ niệm Niobi, con gái của Titan (trong truyện thần thoại Hi Lạp).

59. Ossimi (Os), 76, 1804, từ tiếng Hi Lạp “óme” nghĩa là có mùi”.

60. Oxi (O)8, 1771,  từ tiếng Pháp “oxygene” nghĩa là sinh ra axit.

61. Paladi (Pd) 46, 1803, têngoij để kỉ nnieemj hành tinh nhỏPallas  phát hiện năm 1801.

62. Phốt pho (P) 15, 1669, từ tiếnng Hi Lạp “phosphoros” nghĩa là chất mang ánh sáng.

63. Platin (Pt) 78,thế kỉ XVI, từ tiếng Tây Ban Nha, “platina”nghĩa là bạc.

64. Pluton (Pu) 94, 1940, từ tên gọi của sao Diêm vương lag Plton.

65. Poloni (Po), 84, 1898, do vợ chôngd Curi phát hiện lấy tên có nghĩa là nước Ba Lan.

66. Prazeodim (Pr) 59, 1885, từ tiếng Hi Lạp “Prasios” nghĩa là xanh lá cây và “didymos” nghĩa là sinh đôi. Nghĩa là những muối của nó có màu xanh lá cây và dễ bị nhầm lẫn với các muối Neodim.

67. Prometi (Pm) 61, 1945, tên gọi để kỉ niệm thần Promete, vị thần Hi Lạp đã đánh cắp lửa trời để truyền cho loài người.

68. Protactini (Pa) 91, 1917, tiếp đầu ngữ “Proto” nghĩa là thứ nhất, tức là “Actini thứ nhất”. Khi bị phân rã, Protactini chuyển thành Actini.

69. Radi (Ra) 88, 1898, từ tiếng La Tinh “radius” nghĩa là tia. Radi phát ra các tia phóng xạ.

70. Reni (Re) 75, 1925 tên gọi để kỉ niệm sông Ranh ở châu Âu, theo tiếng La Tinh là Rhenus.

71. Radon (Rn) 86, 1900 tên gọi được xuất xứ từ nguyên tố Radi, thêm vị ngữ “on” để chỉ tất cả các khí trơ (trừ He). Radon là sản phẩm phân rã của Radi và bản thân Radon cũng là chất phóng xạ.

72. Rodi (Rh) 45, 1803  theo tiếng Hi Lạp “Rohdon” nghĩa là “hồng”. Một số muối của nó có màu hồng.

73.Rubidi (Rb) 37, 1861, theo tiếng La Tinh “Ru-bidus” nghĩa là đỏ. Nguyên tố này được phát minh bởi kính quang phổ và trong quang phổ của nó có những vạch màu đỏ.

74. Ruteni (Ru), 44, 1844 tên gọi để kỉ niệm nước Nga, theo tiếng la Tinh “Ruthenia” có nghĩa là nước Nga.

75. Samari (Sm) 62, 1879, phát hiện lần đầu tiên từ quặng Samackit. Tên gọi của quặng này lấy từ tên của một kĩ sư mỏ người Nga Samacxoki.

76. sắt (Fe) 26, thời tiền sử, từ tên gọi cổ xưa của sắt là “ferrum”.

77. Scanadi (Sc) 21, 1879, tên gọi để kỉ niệm bán đảo Scandina thuộc Bắc Âu.

78. Selen (Se) 34, 1818 “selen” theo tiếng Hi Lạp nghĩa là mặt trăng, vì nó giống telu cònn telu là tên gọi khác để kỉ niệm trái đất.

79. Silic (Si) 14, 1824, từ tiếng la tinh “silics” nghĩa là cát.

80. Stronti (Sr) 38, 1808, từ tên gọi của khoáng vật Strontianit (Strontian là tên một địa phương ở Scot).

81. Tali (Tl) 81, 1861 tiếng Hi Lạp là “thallos” nghĩa là “chơi trội”, có tên gọi nghĩa là trong phổ của nó có một vạch xanh lá cây rõ.

82. Tantan (Ta) 73, 1802, tên gọi từ thần thoại Hi Lạp.

83. Tecnecxi (Tc) 43, 1937, từ tiếng Hi Lạp “technetos” có nghĩa là nhân tạo. Nó là nguyên tố đầu tiên thu được bằng con đường nhân tạo.

84. Tecbi (Tb) 65, 1843, đặt tên để kỉ niệm vùng Ytecbi, Thụy Điện.

85. Telu (Te) 52, 1873, từ tiếng La Tinh “telluris” nghĩa là quả đất.

86. Thiếc (Sn), 50, thời tiền sử, không rõ nguồn gốc.

87. Thori (Th) 90, 1828 lần đầu tiên phát hiện từ quặng toris.

88. Thủy ngân (Hg) 80, thời tiền sử, tên gọi “hydragyrum” nghĩa là nước bạc xuất xứ từ tiếng Hi Lạp, “Hydos” nghĩa là nước và “arguros” nghĩa là bạc.

89. Titan (Ti) 22, 1791 để kỉ niệm các vị thần khổng lồ trong thần thoại Hi Lạp.

90 Tuli (Tu) 69, 1879, từ chữ “thule” tên gọi cổ xưa của miền bắc bán đảo Scađinavi.

91. Urani (U) 92, 1789, theo tiếng Hi Lạp “uranos” nghĩa là trời, đặt tên để kỉ niệm sao thiên vương “uran” phát hiện năm 1972.

92. Vanadi (V) 23, 1801, để ngưỡng mộ tình yêu và sắc đẹp của một vị thần ở Scanđinavi cổ xưa tên là Vanadis.

93. Vàng (Au) 79, thời tiền sử, kí hiệu lấy từ tên cổ xưa của vàng là “Autrum”.

94. Xenon (Xe) 54, 1895, từ tiếng Hi Lạp “xenos” nghĩa là “lạ”, “không quen biết”.

95. Xesi (Cs) 55, 1860, từ tiếng La Tinh “Caesies” nghĩa là xanh da trời. Xesi và Rubidi là nguyên tố đầu tiên được Robớc Bunzen và Cruttap Kiếcxốp phát minh bằng phương pháp quang phổ của chúng. Xesi được nhận biết bằng phổ màu xanh da trời trong phổ của nó.

96. Xeri (Ce) 58, 1803, tên gọi để kỉ niệm hành tinh nhỏ là “Ceres” được khám phá năm 1801.

97. Ytecbi (Yb) 70, 1878, để kỉ niệm vùng Ytecbi, tên một địa phương của Thụy Điện, là nơi đã phát hiện ra nhiều quặng đất hiếm.

98. Ziriconi (Zr) 40, 1789, tên gọi từ khoáng vật Zieckon từ đó lần đầu tiên phát hiện ra nó.

Sưu tầm


Hành động

Information

3 responses

11 05 2010
Wordpress Việt ngữ hôm nay – đánh bỏ mịe bọn Chệt thôi! | CafeĐen … mobilis in mobile

[…] thuvienhoahoc : NGUỒN GỐC ĐẶT TÊN CÁC NGUYÊN TỐ (XẾP THEO VẦN ABC) […]

20 04 2010
Trần Phan

Một blog rất thú vị. Tôi nghĩ chủ nhân của nó là một nhà giáo rất yêu nghề. Tình cờ qua đây và đã đọc một số bài. Riêng bài này, tôi mạo muội để lại lời nhắn:

– Tên của các nguyên tố phải được viết theo danh pháp latin. Những nguyên tố đã có tên Việt hoặc được việt hóa thì cũng phải ghi chú tên gốc bằng latin;
– Bài viết này có sự nhầm lẫn giữa các thứ tiếng. Đặc biệt là tiếng Hy Lạp và tiếng Latin. Tiếng Hy Lạp và tiếng Hy Lạp được Latin hóa là khác nhau;

Vài dòng mạo muội, mong bỏ qua cho. Thân!

20 04 2010
thuvienhoahoc

Xin cảm ơn những lời góp ý rất chân thành của anh!
Rất mong nhận được sự ủng hộ cũng như những ý kiến đóng góp quí báu của anh, để bài viết hay và chính xác khoa học hơn. Xin chân thành cảm ơn!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s




%d bloggers like this: