Kim loại của mồ hôi, nước mắt và máu-Vàng (Au):

15 05 2010

Khó mà nêu ra được một kim loại nào khác đóng vai trò đặc biệt trong lịch sử loài người như vàng. Chúng ta ai mà không biết vàng là kim loại quý.

Dưới đây, các bạn hãy hình dung kho chứa vàng của Mỹ ở Noks, được canh giữ như thế nào. Đó thật là một đồn lũy kỳ lạ.

Xung quanh đồn này có 5 lớp hàng rào dây thép gai được mắc một hệ thống điện cao thế đến 5.000 vôn. Mười tháp canh bên ngoài được trang bị bằng những máy móc vô tuyến hiện đại nhất để quan sát không cho bất cứ một cuộc đột nhập nào từ xa tới. Các tháp canh được trang bị bằng những loại súng liên thanh tự động và các loại đại bác cực nhanh tự động hướng tới đích. Trong kho để vàng cứ vài phút lại được phun ra một luồng khí cực kỳ độc có thể hủy diệt lập tức bất cứ sinh vật nào trong đó. Trung tâm kho chứa vàng là một cái két xây bê tông cốt thép đậy kín mít bằng cửa 12 lớp khóa điện tử.

(Mặc dù vàng ở Mỹ được bảo quản như vậy nhưng cho đến nay kho vàng của Mỹ vẫn đang vơi dần. Vàng của Mỹ bị mất không phải vì một cuộc đột nhập liều lĩnh nào từ xa tới mà do tính chất lạm phát của  Mỹ, do giá trị của đồng đôla bị sụt giá).

Duới chế độ tư bản thì vàng quý hơn tất cả. Vì rằng ở chế độ tư bản, tất cả đều là hàng hóa, ngay cả sức lao động và thậm chí cả bản thân con người nữa. Tất cả quan hệ chỉ là bán và mua.

Vàng giữ chức năng cửa tiền tệ là cơ sở duy nhất của quan hệ mua bán đó. Nghĩa la tất cả đều phụ thuộc vào vàng.

Trong chế độ tư bản, vàng đã sinh ra bao nhiêu nỗi lo âu, cầu xin, lừa đảo, bao nhiêu việc điểu giả, khả ố, đáng nguyền rủa nhất, bao nhiêu nước mắt, mồ hôi và máu.

Vậy thì đến xã hội không có giai câp nữa phải chăng vang sẽ hết giá trị. Hoàn toàn không phải thế, đến xã hội không có giai cấp thì vàng cũng như các kim loại quý khác, nhờ những tính chất quý giá của mình sẽ góp phần “thúc đẩy” khoa học kỹ thuật đưa lại cuộc sống hạnh phúc cho con người. Chúng ta hãy nhớ lại vài tính chất đặc biệt của vàng.

Vàng là một kim loại màu ánh vàng, mềm, cực kỳ dễ dát mỏng, dễ kéo sợi. Một hạt vàng nặng 1gam có thể kéo được một sợi dây dài 3000 mét, có đường kính bằng 0,0001 milimét, nghĩa là kích thước sợ dây 500 lần nhỏ hơn sợi tóc của chúng ta.

Vàng dẫn điện tôt, cực kỳ bền đối với tác dụng hóa học, nhiệt độ nóng chảy cao (1063oC). Những tính chất đó và nhiều tính chất quý giá khác nửa bảo đảm cho vàng mãi mãi giữ được giá trị của nó.

Chén vàng, bát vàng vả những dụng cụ khác bằng vàng dùng trong phòng thí nghiệm không sợ bị hóa chất phá hủy.

Vàng sẽ có nhiều ứng dụng trong phong thí nghiệm, trong kỹ thuật, kỹ nghệ tên lửa, và cả để trang sức cho con người.

Trong vỏ trái đất vàng chiếm tỷ lệ: 5.10-8%. Những cục vàng tự nhiên tìm được từ cổ xưa có kích thước khá lớn (có cục nặng 1.120 kg). Nếu để ý trên đó có những vết bổ bằng rùi đá, thì chúng ta có thể nghĩ rằng trong thời đại xa xưa, vàng trong tự nhiên khá tập trung. Thế rồi trong quá trình vận chuyển không mệt mỏi của mình, nước đã đập nát các khoáng thạch (trong đó có vàng) và phân tán ra khắp nơi. Ngày nay vàng là những nguyên tố rãi rác nhất.

Hầu hết các cơ sở khai thác vàng đều đi từ những quặng mỏ trong đó hàm lượng vàng chỉ 0,0008-0,001%. Nghĩa là muốn lấy được 1 gam vàng phải xử lý đến hàng tấn đất đá. Xí nghiệp khai thác vàng hiện nay là những nhà máy trang bị bằng những máy móc phức tạp nhất, trong đó có những máy nghiền đập khổng lồ. Tổng số vàng con người khai thác được cho đến nay chỉ khoảng 60.000 tấn.

Ở các nước tư bản, vàng chủ yếu được khai thác ở Nam Phi (70%), Canađa

(12%), Mỹ(4%). Với giá công rẻ mạt ở Nam Phi mà giá vàng khai thcá từ lục địa cũng đến 1.13 đôla 1 gam. Ở các nước như Canađa, Úc Châu, chi phí khai thác 1 gam vàng đến trên 1.6 đola.

Do sự tăng dần khối lượng ngoại thương, mức độ khai thác vàng mỗi một năm tăng:

-Năm 1950 khai thác vàng của thế giới là 743 tấn.

-Năm 4965 khai thác vàng của thế giới là 1.269 tấn

-Năm 1967 khai thác vàng của thế giới la 1.300 tấn

Điều đó lẽ tất nhiên bất buộc kỹ nghệ phải chuyển sang khai thác vàng ở những nơi có hàm lượng vàng nghèo hơn. Theo nhận xét của bộ Công Nghiệp khai khoáng Nam Phi thì kỹ nghệ khai thác vàng ở đây chỉ tăng đến năm 1970. Tới năm 1980 thì mức khai thác sẽ giảm xuống bằng 1960, nghĩa là khoảng 655 tấn/năm.

Với những lẻ trên bắt buộc người ta phải xúc tiến nhanh chóng tìm nguồn vàng mới.

Khoa học đã biết được chính nước là “thủ phạm” của việc phân tán vàng trong tự nhiên. Hàng triệu năm nay vàng đang chuyển dần ra biển và đại dương. Nhưng khoa học chưa biết đích xác số phận của vàng phân tán đi đâu:

Trong nước đại dương, dưới đáy biển, trong bùn biển, trên bãi cát hay ở cửa sông.

Công việc tìm kiếm vàng vẫn đang được tiến hành. Có nhiều ý kiến đưa ra cho biết cần lưu ý trong bùn biển, cát biển ở các cửa sông. Nhưng điều mà người ta biết chắc chắn là trong nước đại dương có vàng.

Kể từ khi (Sonxtat) lần đầu tiên phát hiện được vàng trong nước đại dương thì các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến việc xác định hàm lượng của nó và tìm cách khai thác.

Việc phân tích vàng trong nước đại dương đến nay vẫn chưa phải là đã kết thúc, nhưng chúng ta có thể chọn kết quả tin cậy nhất là trong một nước tấn đại dương có khoảng 0.004 đến 2 miligam vàng.

Trữ lượng vàng của toàn bộ nước đại dương trên 6 triệu tấn.

Việc nghiên cứu khai thác vàng trong nước đại dương được nhà bác học Đức la Gabe tiến hành trước tiên, xuất phát từ ý định đõ gánh nặng bồi thường chiến tranh cho nước Đức. Đên năm 1942 nhà bác học Pháp la Baor đã đề nghị một phương pháp khai thác vàng từ nước đại dương bằng cách dùng mạt cưa hấp phụ. Theo sự tính toán


Hành động

Information

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s




%d bloggers like this: